Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu từ mặt
hàng cá tra của Việt Nam đạt 1,453
tỷ USD, chiếm gần 1/3 tổng kim ngạch
xuất khẩu thủy sản. Thị trường xuất
khẩu cá tra cũng tăng lên từ hơn 100
nước (năm 2007) lên gần 130 nước
(năm 2009). Mặt khác, chỉ với diện
tích đất khoảng 6.000 ha, chưa tính
tiêu thụ trong nước, riêng xuất khẩu
đã đạt 1,453 tỷ USD, nghĩa là 1
hecta tạo ra giá trị xuất khẩu là
242.166 USD. Đây là con số khá ấn
tượng nếu đem so với hiệu quả sản
xuất các mặt hàng nông nghiệp khác
như: nuôi tôm, trồng lúa, trồng
màu... Do đó, nhiều địa phương ở
đồng bằng sông Cửu Long xác định
kinh tế thủy sản, đặc biệt là nuôi
cá tra thâm canh là ngành kinh tế
mũi nhọn là đều dễ hiểu.
 |
|
Nuôi cá tra ở Cái Bè
|
Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống
sông ngòi chằng chịt với 2 dòng sông
Tiền và sông Hậu chảy qua với chiều
dài mỗi sông khoảng 220km nên điều
kiện tự nhiên khá thuận lợi cho hoạt
động nuôi cá tra trên các ao ven
sông, trên cồn (dễ dàng trong hoạt
động lấy nước), cộng với kỹ thuật
nuôi không quá khó nên nghề nuôi cá
tra khu vực này phát triển mạnh nhất
là trong vài năm trở lại đây. Hầu
hết các tỉnh có lợi thế cho hoạt
động nuôi cá tra ao thâm canh đều có
quy hoạch vùng nuôi cá tra.
Theo quy hoạch phát triển chung
cho vùng đồng bằng sông Cửu Long vừa
được Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn phê duyệt thì tốc độ tăng
trưởng diện tích trong vùng trong
các năm tới trung bình khoảng
4,2%/năm. Cụ thể đến năm 2010 diện
tích nuôi cá tra của vùng đạt 8.600
ha tập trung chủ yếu ở Đồng Tháp là
2.300 ha, An Giang với 2.100 ha. Đến
năm 2015, diện tích nuôi cá tra của
vùng đạt 11.000 ha và đến năm 2020
là 13.000 ha. Theo báo cáo của Bộ,
đến nay diện tích thả nuôi cá tra
đạt 5.154 ha, tăng gần 600 ha so với
cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với
dự kiến do ảnh hưởng khủng hoảng
kinh tế thế giới, hoạt động xuất
khẩu sụt giảm. Nhưng theo thông tin
thị trường thì người tiêu dùng thế
giới vẫn thích ăn cá tra kể cả dân
Việt Nam cũng vậy. Do đó, khủng
hoảng kinh tế rồi sẽ đi qua, xuất
khẩu thủy sản sẽ tăng trưởng trở lại
và hoạt động nuôi cá tra cũng sẽ
phục hồi, phát triển theo định hướng
quy hoạch. Vì vậy, bên cạnh phát
triển nghề nuôi cá tra, việc giải
quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nuôi
không phải là thừa mà rất cần thiết
cho việc phát triển nền nông nghiệp
bền vững trong tương lai.
Thực tế cho thấy, nuôi cá tra
theo hình thức thâm canh đã có tác
động rất lớn đến môi trường do thức
ăn dư thừa, chất thải dạng phân,
chất bài tiết tích tụ lại trong nước
và nền đáy. Dưới tác động của vi
sinh vật và các quá trình phân hủy
tự nhiên, chất thải chuyển thành
Amoni, Nitorat, Photphat,... các
chất khoáng đã kích thích sự phát
triển của tảo dẫn đến hiện tượng nở
hoa của tảo trong ao. Thêm vào đó,
các độc tố phát sinh từ quá trình
phân hủy các chất thải trong ao nuôi
và sự tàn rụi của tảo làm cho môi
trường nuôi nhanh chóng bị suy
thoái, từ đó làm cho các đối tượng
nuôi dễ bị nhiễm bệnh, thiếu Oxy hay
nhiễm độc tính của các chất chuyển
hoá.
Giải pháp cải thiện chất lượng
nước trong ao nuôi là thay nước. Như
vậy, chất dinh dưỡng, tảo cùng các
chất ô nhiễm được cho ra khỏi ao và
được thay thế bằng nguồn nước có
chất lượng tốt hơn, có tác dụng cải
tạo môi trường nước ao nuôi. Tuy
nhiên, đây chỉ là giải pháp tức
thời, không thể loại bỏ được hiểm
họa của chính nó. Với việc loại bỏ
những chất thải không được kiểm soát
và quản lý trong điều kiện cơ sở hạ
tầng phục vụ hoạt động nuôi cá tra
phát triển kém, thoát nước không đảm
bảo thì chất thải từ khu nuôi này sẽ
theo nguồn nước cấp đi vào khu nuôi
khác. Vì vậy, để môi trường nước
phục vụ hoạt động nuôi cá tra được
đảm bảo bền vững thì biện pháp duy
nhất là phải xử lý chất thải trước
khi thảy ra môi trường.
Thực trạng môi trường nuôi cá
tra
 |
|
Thu hoạch cá tra
|
Các công nghệ về sản xuất con giống,
thức ăn, quy trình nuôi cá tra thâm
canh ngày càng hoàn thiện, quy mô
nuôi ngày càng lớn. Nuôi thâm canh
được coi như là quá trình bao gồm
một lượng lớn vật liệu được đưa vào
sau đó chỉ một lượng nhỏ vật nuôi
được thu hoạch, phần còn lại được
coi như là chất thải thải ra môi
trường bên ngoài. Thức ăn công
nghiệp có thành phần dinh dưỡng cao,
đặc biệt là giàu đạm, photpho là
nguồn tác động mạnh đến môi trường.
Các nghiên cứu của Boyd (1985),
Gross và cộng sự (1998) cho thấy cá
da trơn chỉ hấp thu được 27 -30%
nitrogen (N), 16 - 30% photpho (P)
và khoảng 25% chất hữu cơ đưa vào từ
thức ăn. Các nghiên cứu của Yang
(2004) khi thử nghiệm nuôi cá da
trơn trong 90 ngày cho thấy cá chỉ
hấp thu được khoảng 37% hàm lượng N
và 45% hàm lượng P trong thức ăn cho
vào ao nuôi; như vậy, để đạt được
sản lượng trung bình khoảng 200 tấn
cá/ha với hệ số chuyển đổi thức ăn
FRC là 1,6 cần sử dụng lượng thức ăn
tối thiểu là 320 tấn và lượng chất
hữu cơ thải ra môi trường là 256
tấn!.
Như vậy, theo quy hoạch phát
triển đến năm 2020 sản lượng cá tra
nuôi trồng tại ĐBSCL sẽ là 1.850.000
tấn thì lượng chất thải tương ứng là
2.368.000 tấn chất hữu cơ, trong đó
có 93.240 tấn N; 19.536 tấn P và
651.200 tấn BOD5. Con số trên là một
thách thức lớn đối với các vùng nuôi
tập trung, với lượng thải trên nếu
không có giải pháp hạn chế sẽ là
hiểm họa đối với môi trường nước
vùng ĐBSCL nói chung và đặc biệt
nghiêm trọng đối với các vùng nuôi
cá tra.
Mặt khác, theo số liệu thống kê
cho thấy mức độ ô nhiễm của vùng
nuôi cá tra trên địa bàn tỉnh Tiền
Giang là khá lớn, đặc biệt là chất ô
nhiễm dạng N. Có tới 80-82% hàm
lượng N hòa tan dưới dạng NH4+. Xét
giá trị hàm lượng Cácbon (C) cho
thấy 32-46% hàm lượng C ở dạng hòa
tan trong nước và 54-68% ở dạng lơ
lửng.
Như vậy, với lượng chất thải lớn
và nồng độ các chất ô nhiễm khá cao,
chất thải từ ao nuôi cá tra đã và
đang tác động rất lớn đến môi trường
nước, ảnh hưởng tiêu cực không chỉ
đến nghề nuôi mà còn tác động đến
hoạt động sinh hoạt của người dân.
Các giải pháp xử lý nước thải
trong nuôi cá tra
 |
|
Hệ thống đất ngập
nước sử dụng trong
nghiên cứu tại đại học
Cần Thơ
|
Các chất thải từ hoạt động nuôi cá
tra rất lớn, chủ yếu ở dạng dễ phân
hủy sinh học trong điều kiện các khu
vực nuôi cá đều nằm trong vùng nông
thôn, gần các khu sản xuất nông
nghiệp nên giải pháp áp dụng để xử
lý nước thải từ hoạt động nuôi cá
thiết nghĩ nên hướng về sử dụng công
nghệ sinh học tự nhiên và đơn giản.
Tại Thái Lan, các nhà khoa học đã
sử dụng giải pháp nuôi tuần hoàn cá
da trơn trong điều kiện thí nghiệm,
bao gồm nước thải từ bể nuôi cá tra
chuyển sang bể nuôi cá rô phi, sau
3-7 ngày được tuần hoàn lại vào bể
nuôi cá tra, cho hiệu quả kinh tế và
môi trường.
Tại Đại học Clemson - Mỹ cũng đã
sử dụng hệ thống tuần hoàn để xử lý
nước thải từ khu nuôi cá da trơn và
tận dụng chất dinh dưỡng trong nguồn
nước thải để nuôi tảo thu sinh khối
để sử dụng cho các mục đích năng
lượng.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu sử
dụng hệ thống đất ngập nước để xử lý
nước thải trong nuôi cá tra cho hiệu
quả. Thử nghiệm của Trường Đại học
Cần Thơ sử dụng cách lọc nước thải
qua đất ngập nước chảy ngầm kiến tạo
cho hiệu quả xử lý khá cao. Hiệu quả
xử lý trong hệ thống này là khá khả
quan: BOD5 đạt 84%.
Người dân ở xã Thạnh Mỹ Tây,
huyện Châu Phú, tỉnh An Giang sử
dụng nước thải từ hầm nuôi cá tra để
tưới cho lúa với tỷ lệ 3 ha nuôi cá
tưới cho 51 ha lúa cho hiệu quả rõ
rệt. Các thử nghiệm của người dân là
một trong những hướng có triển vọng
để giải bài toán xử lý lượng nước
thải khổng lồ từ hoạt động nuôi cá
tra thâm canh. Nhiều địa phương ở
Cần Thơ đã sử dụng nước thải từ ao
nuôi cá tra để tưới cho lúa cũng
nhầm nhằm mục đích giải quyết vấn đề
ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, đây
cũng chỉ là những mô hình thử
nghiệm, cần phải có những nghiên cứu
khoa học cụ thể để khuyến cáo người
dân sử dụng đạt hiệu quả cao cả về
kinh tế và môi trường.
Những giải pháp có thể áp dụng
để hạn chế ô nhiễm môi trường
Từ những phân tích thực trạng do
nghề nuôi gây ra cũng như kinh
nghiệm xử lý môi trường trong lĩnh
vực này trong và ngoài nước, nhất là
kinh nghiệm bước đầu của một số bà
con ở An Giang, Cần Thơ thì thiết
nghĩ các khu vực nuôi cá tra của
nước ta có thể áp dụng một số giải
pháp sau:
* Giải pháp quy hoạch
Trên cơ sở quy hoạch tổng thể của
Bộ NN&PTNT, các địa phương cần xây
dựng quy hoạch chi tiết tùy theo
tình hình cụ thể của địa phương mình
dựa trên những cơ sở về điều kiện tự
nhiên, cơ sở hạ tầng. Các khu vực
nuôi cần phải quy hoạch đồng bộ với
hệ thống cấp và thoát nước riêng
biệt.
* Giải pháp về khoa học -
kỹ thuật
Khuyến khích người dân nuôi cá
tra thâm canh theo tiêu chuẩn
GAP/BMP/CoC hay các tiêu chuẩn quốc
tế khác thân thiện với môi trường.
Đầu tư nghiên cứu làm rõ về thành
phần chất thải theo thời gian nuôi
cá, xác định rõ tải lượng các chất ô
nhiễm từ các ao nuôi để trên cơ sở
đó tính toán diện tích và cách thức
xử lý cho phù hợp.
Với đặc tính lượng chất thải lớn,
thành phần chủ yếu là các chất dễ
phân hủy sinh học, các khu nuôi nằm
gần các vùng sản xuất nông nghiệp
nên giải pháp thủy lợi cho vấn đề
này là dẫn nước thải từ khu nuôi sử
dụng cho các khu sản xuất nông
nghiệp sẽ có tính khả thi và phù hợp
với điều kiện về đất đai, cơ sở hạn
hạ tầng và trình độ quản lý của các
địa phương.
Đầu tư nghiên cứu và xây dựng thử
nghiệm mô hình xử lý chất thải phát
sinh từ nuôi cá tra. Chú trọng đến
giải pháp hồ sinh học kết hợp với
cánh đồng tưới nông nghiệp, trong đó
phải làm rõ vấn đề điều kiện áp
dụng, cách thức, tỷ lệ diện tích,
thời gian lưu, các vấn đề nước thải
phú dưỡng, cân bằng ding dinh dưỡng
trong nước thải khi sử dụng cánh
đồng tưới nông nghiệp.
Tóm lại, nuôi cá tra thâm canh ở
đồng bằng sông Cửu Long có nhiều
tiềm năng để phát triển. Tuy nhiên,
nếu phát triển như hiện nay chỉ chú
trọng phát triển về diện tích và
năng suất nuôi để thu lợi nhuận mà
bỏ quên vấn đề ô nhiễm môi trường
thì với tình trạng này, suy thoái
môi trường do nuôi cá sẽ tác động
mạnh đến nghề nuôi và là cản trở lớn
nhất cho việc phát triển nghề nuôi
trong thời gian tới. Vì vậy, để nghề
nuôi cá tra phát triển bền vững,
ngay bây giờ song song với quy hoạch
phát triển nghề nuôi cần chú trọng
đến vấn đề bảo vệ môi trường, trong
đó đặc biệt quan trọng là phải
nghiên cứu đưa ra các giải pháp hợp
lý, có tính thực tiễn cao để xử lý
các chất thải phát sinh trong quá
trình nuôi cá tra.
Bài,
ảnh: Trí Quang